← Mở giả lập · Thí nghiệm lịch sử vùng nhỏ
Mở rộng vùng Vành đai 3
Mạng đường thật, nhu cầu tổng hợp. Chưa hiệu chỉnh hoặc kiểm định bằng số đếm giao thông thực địa.
Phạm vi và dữ liệu
Khung [105.74, 20.94, 106.00, 21.19] phủ vùng trong Vành đai 3 và một dải đệm để thấy các đường tiếp cận. Diện tích ghi dưới đây là diện tích khung, không phải diện tích bên trong một đa giác ranh giới chính thức. Phần phía bắc của tuyến vành đai có yếu tố quy hoạch; trang không vẽ ra một đường bao pháp lý.
| Diện tích khung phủ, có dải đệm | 752 km² |
|---|
| Nút hình học / giao lộ từ 3 láng giềng | 57 175 / 42 176 |
|---|
| Đoạn có hướng (hai chiều đếm hai đoạn) | 140 718 |
|---|
| Nút đèn suy ra từ OSM | 815 |
|---|
| Điểm đi–đến tổng hợp | 81 |
|---|
| Ô dân cư hiển thị khoảng 300 m | 10 465 |
|---|
Geofabrik / OpenStreetMap, snapshot 27/10/2026 21:23:59 UTC: hình học, kết nối, đường một chiều, làn đường khi có, loại đường, cầu/hầm/layer và một số hạn chế loại xe. Giữ mạng liên thông mạnh cho ô tô; chọn điểm đi–đến nằm trong phần liên thông chung với xe máy. Có đường dân cư, living street và các đường nối; loại bỏ đường chỉ dành cho người đi bộ/xe đạp, service/track, đường cấm chung và thành phần bị cô lập. Vì vậy đây không phải kiểm kê đầy đủ mọi ngõ và đường vào nhà.
815 nút đèn là các giao lộ được gán từ điểm traffic_signals OSM trong bán kính tối đa 80 m. Chu kỳ 90 giây và pha đèn là giả định. Không có danh mục bộ điều khiển, thời lượng đèn, làn rẽ hay cấm rẽ đầy đủ từ cơ quan giao thông. OSM motorcycle/motorbike=no và motorway chặn xe máy; các hạn chế phụ thuộc thời gian và quan hệ turn restriction chưa được mô hình hóa đầy đủ.
WorldPop 2020, DOI 10.5258/SOTON/WP00645, CC BY 4.0: dữ liệu dân cư ước tính trên ô gốc 3 giây cung (~100 m), được cộng 3×3 ô thành ô hiển thị ~300 m. Mật độ chia tổng dân cư cho diện tích địa lý của ô. Không phải dân số đo đạc năm 2026. Các hình mặt nước chỉ lấy polygon đóng sẵn trong snapshot, không phải lớp thủy hệ đầy đủ.
Nhu cầu và so sánh
81 điểm đi–đến được chọn gần tâm lưới 9×9 trên vùng phủ và có đường đi cho cả hai loại xe. Khi bật dân cư, xác suất điểm đi dùng tổng dân cư lân cận với trọng số Gaussian bán kính tham số 1.200 m; điểm đến lấy ngẫu nhiên trong các điểm còn lại cách ít nhất 1 km. Đây là phương pháp tạo OD giả định, không suy ra luồng đi làm từ mật độ dân cư. Mặc định 45.000 chuyến/ngày, 80% xe máy và các trọng số theo giờ đều là đầu vào thử nghiệm có thể sửa.
Mỗi lần so sánh chỉ tạo một tập chuyến rồi đưa cùng các đối tượng chuyến cho hai động cơ: cùng OD, loại xe và giờ xuất phát. Đường đi được tính lại trên từng mạng. Đường mới và nhánh thêm cạnh truy nhập, chuyển hướng, nút giao và xung đột; giao cắt mới cùng mức có thể bật/tắt. Không tự nối giao cắt hình học với đường có layer khác 0, cầu/hầm hay motorway; điểm đầu/cuối nối do người vẽ chọn rõ ràng.
Chế độ vẽ giữ nguyên nhu cầu theo yêu cầu so sánh hiện tại. Các thí nghiệm S3/S4 trong báo cáo cũ mới có nhu cầu phát sinh; không được đọc kết quả của chế độ này như dự báo nhu cầu cảm ứng. Vị trí chấm xe được minh họa, tối đa 350 chấm mỗi bản đồ ở vùng lớn, còn toàn bộ xe vẫn được tính trong chỉ số.
Chạy 24 giờ phát sinh + 1 giờ xả. Hoàn thành = xe đã đến đích; chờ gồm cả xe chưa xong và xe còn ngoài mạng; spillback = tổng thời gian đoạn bị chặn bởi dung tích đoạn tiếp theo; throughput trong bảng là xe đến đích trong 15 phút gần nhất quy đổi theo giờ. Hàng đợi có dung tích hữu hạn theo PCU và FIFO. Bộ lập lịch chỉ đánh thức nút có xe có thể được phục vụ; cache bản đồ và tính toán nền giúp giao diện tiếp tục hoạt động khi chạy.
Vùng mô phỏng hình chữ nhật
Chọn vùng ▭ cho phép kéo khung trên bản đồ phải bằng chuột hoặc cảm ứng. Hai bản đồ dùng chung khung và tự phóng tới vùng chọn. Phóng vùng chọn đưa khung về giữa màn hình, Bỏ vùng chọn trở về toàn mạng, Esc hủy khung đang kéo. Khung cần rộng/cao ít nhất 250 m và được lưu riêng theo phạm vi bản đồ. Đổi khung làm mất hiệu lực kết quả cũ, cần chạy lại.
Đây là một mô phỏng cục bộ: nhu cầu ngày và phân bố 24 giờ áp dụng riêng cho khung. Tạo các điểm nội vùng theo lưới 5×5 bắt vào phần mạng có đường nối cho cả ô tô và xe máy. Lấy thêm tối đa 16 cửa vào và 16 cửa ra đại diện trên các đường cắt biên, chỉ giữ cửa có đường đi tới/từ lõi liên thông. Điểm đi dùng trọng số WorldPop tại các ô cắt vùng; trọng số cửa biên dùng mức trung bình điểm nội vùng. Điểm đến lấy ngẫu nhiên trong tập đích hợp lệ với khoảng cách tối thiểu điều chỉnh theo kích thước vùng. Tỷ lệ chuyến qua biên, nội vùng và OD đều là giả định.
Chỉ dùng hiện trạng sau lọc để tạo tập chuyến địa phương một lần; đưa chính xác cùng các chuyến, giờ xuất phát và loại xe cho phương án đường mới. Các cửa phát sinh do đường tự vẽ không tự nhận thêm nhu cầu. Lưu lượng này chưa được ước lượng từ luồng xe toàn thành phố hoặc số đếm thực địa tại ranh.
Cắt từng đoạn hình học tại ranh, giữ cả đường có hai đầu ở ngoài nhưng đi xuyên khung; đường rời vùng rồi quay lại được tách thành các phần riêng, không nối tắt qua phần ngoài. Chiều dài và dung tích được chia theo tỷ lệ phần đường còn trong vùng. Giữ chiều lưu thông, hạn chế loại xe và các điểm nối thật; những đường khác mức không bị nối lại do cắt biên. Đường đã vẽ ngoài khung được lưu, chỉ phần bên trong tham gia tính toán.
Xe vào qua ranh được đếm khi thực sự được nhận từ hàng đợi ngoài vào mạng. Xe ra qua ranh được đếm khi tới cửa đích trên biên; bảng có thêm lưu lượng ra biên trong 15 phút. Hoàn thành vẫn bao gồm cả xe tới điểm đích nội vùng. Các xe chưa nhận vào và chưa tới đích đều được giữ trong bảo toàn xe. Không mô phỏng mạng và hàng đợi bên ngoài khung; muốn suy luận tác động thực tế cần hiệu chỉnh nhu cầu biên, OD và năng lực bằng dữ liệu quan trắc.
Kiểm tra vùng cắt gồm hình học cắt biên, cổng hai chiều, đường rời/quay lại, định tuyến trong khung, xe máy/ô tô, dùng đường mới, dung tích, bảo toàn xe và đối chiếu bộ đếm biên với từng xe. Cả hai mức lọc được chạy với 1.000 chuyến; một trường hợp ép tắc kiểm tra xe chờ ngoài và chưa hoàn thành. Kiểm tra chuột, cảm ứng, lưu và xóa vùng. Tái lập bằng node check_area.cjs.
Lọc mạng mô phỏng
Chi tiết đường có ba mức theo loại đường OSM: Ẩn đường ngõ bỏ residential, living_street và unclassified; Chỉ trục chính bỏ thêm tertiary. Giữ các đường nối _link của nhóm còn lại. Đây là phân loại chức năng đường, không xác nhận bề rộng hoặc khả năng đi ô tô của từng ngõ ngoài thực tế. Mọi đường/nhánh tự vẽ vẫn được giữ.
Mặc định bật Chỉ mô phỏng đường đang hiện: những cạnh thuộc loại bị ẩn được loại khỏi mạng của cả hai động cơ. Đổi bộ lọc phải chạy lại. Không có xe, dung tích hay xung đột do cạnh bị loại trong tính toán; nút đèn giả định mới chỉ còn khi thật sự có giao lộ trong mạng sau lọc. Tín hiệu có nguồn từ OSM trên đường giữ lại vẫn dùng pha giả định cũ. Bỏ chọn ô này để bộ lọc chỉ đổi hiển thị, còn mô phỏng dùng toàn mạng.
Tạo tập chuyến địa lý gốc một lần theo cùng hạt giống. Khi lọc mạng, các điểm đi–đến được gán tới nút gần nhất còn liên thông cho cả xe máy và ô tô trong hiện trạng sau lọc; những nút hợp lệ sẵn được giữ, mỗi điểm được gán một nút khác nhau để không làm biến mất chuyến có hai đầu trùng nhau. Phép gán chỉ dựa trên hiện trạng, dùng chung cho phương án đường mới. Giữ đủ số chuyến, giờ xuất phát và loại xe; không bỏ các chuyến xuất phát trong ngõ và không gán điểm vào đường mới riêng cho phương án.
Đây là giả định đưa nhu cầu lên mạng trục. Không mô phỏng chặng tiếp cận từ nhà/ngõ đến nút mới, nên không dùng chế độ này để kết luận tác động thực tế của việc đóng ngõ. Dòng kết quả ghi khoảng dịch điểm lớn nhất. Một tuyến tự vẽ chỉ nối với các ngõ đã loại có thể bị cô lập và không có xe sử dụng. Ảnh xe và màu tắc nghẽn được ánh xạ lại về đúng cạnh bản đồ sau khi số thứ tự cạnh thay đổi.
Kiểm tra riêng chế độ lọc: hai mức lọc, mỗi mức 1.000 chuyến trên hai mạng có đường mới và nhánh; kiểm tra đủ chuyến, cùng phép gán, định tuyến đúng loại đường/xe, bảo toàn xe, dung tích và chỉ số cạnh trên bản đồ. node check_scope.cjs tái lập các kiểm tra. Các kết quả 45.000 chuyến của phần vùng mở rộng bên dưới vẫn là kiểm tra toàn mạng, không phải kết quả của chế độ lọc.
Kiểm tra và giới hạn áp dụng
11 kiểm tra đạt. Lần chạy tái lập dùng 45 000 chuyến/ngày, mã nhu cầu ec318b36. Đây là kiểm tra phần mềm, không phải đối chiếu thực địa.
- Extended coverage includes all sides beyond legacy window
- Detailed local roads and larger OD coverage retained
- Population display uses 3x3 sums of original cells
- Every generated OD is routable and modes obey restrictions
- Roads and branches can be drawn beyond legacy bounds
- Automatic crossings add explicit intersections
- Original road length survives splitting
- Branch deletion and parent cascade remain valid
- New topology is used in actual routes
- Paired demand, conservation and finite storage on extended network
- Wake scheduler matches exhaustive scanning on full region
Kết quả chi tiết và hai bộ chỉ số · Phương án thử đường + nhánh
Ba fixture JavaScript/Python và bộ lập lịch mới khớp ở sai số số thực dưới 10⁻⁶. Kiểm tra vùng lớn đối chiếu bộ lập lịch với quét toàn mạng, định tuyến theo loại xe, vẽ ngoài vùng cũ, thêm/xóa nhánh, sử dụng đường mới, bảo toàn xe và giới hạn dung tích. Các kiểm tra này xác nhận logic triển khai; chúng không xác nhận tốc độ, năng lực, tỷ lệ xe hay OD thực tế của Hà Nội.
124 thí nghiệm trong báo cáo gốc chỉ áp dụng cho vùng Láng–Giảng Võ khoảng 8,15 km². Không chuyển các kết luận hoặc khoảng tin cậy đó sang vùng Vành đai 3. Cần số đếm theo nút/giờ/loại xe, thời lượng tín hiệu, đo hành trình và OD độc lập để hiệu chỉnh rồi kiểm định trên thời gian hoặc vị trí chưa dùng để hiệu chỉnh.
Tái lập và ghi công
Nguồn, ngày trích xuất và SHA-256 · Snapshot OSM vùng nghiên cứu · Raster dân cư gốc đã cắt · Thống kê mạng · Mã nguồn và hướng dẫn
© OpenStreetMap contributors / Geofabrik — ODbL 1.0. WorldPop / University of Southampton — CC BY 4.0. Mã nguồn MIT. Các đường tự vẽ không được xác nhận khả thi về xây dựng.